
Thông Tin Du Lịch
Tuần vừa rồi tôi mới có một chuyến đi, giang hồ vặt vãnh (một chiếc ba lô, một mẩu bánh mỳ, một pạt po trong túi) kể cũng tầm thường nhưng không phải không có những ấn tượng này nọ muốn ghi ra, lại thêm có vài cái kinh nghiệm nhỏ nhân trăng thanh gió mát trình bày đây để quý vị nào có lỡ bước lên đường cũng biết qua mà chuẩn bị.
Những ấn tượng cuối cùng của tôi về nước Đức nằm ở Hannover. Hannover là thủ phủ bang Niedersachsen, trên dòng sông Leine. Hannover là thành phố tình cờ. Chỉ vì không chú ý cẩn thận xem giờ tàu thành ra cuối tuần không có IC chạy từ Magdeburg về Hannover. Vậy là tôi phải đến sớm hơn hai tiếng đồng hồ và chờ đợi ở thành phố ấy. Âu cũng là một kinh nghiệm: giờ tàu không phải là một vào tất cả các ngày.
Đợi? Chẳng nhẽ lại ngồi dí ở sân ga xem những thằng bé nhóc con 17, 18 tuổi, những đứa con gái cũng trạc đó tuổi nghịch ngợm bố láo ở sân ga. Không hiểu sao thành phố nào của nước Đức cũng lấy nhà ga là trung tâm. Cứ “Die Bahnhof, bitte” là chắc chắn có người chỉ đường cho. Sân ga trở thành nơi tụ tập của bọn trẻ, vì ở đó đông người, vì ở đó rộng rãi, và vì ở đó sáng.
Khác với Paris, thành phố ở Đức không có nhiều ánh sáng. Ra khỏi Platz Ernst August, Koenig von Hannover (Quảng trường nhà ga), thêm một đoạn sáng nữa là đã chui vào màn đêm, sở trường của nước Đức. Trong tay tôi là tờ báo Zeit Literatur vừa mua trong nhà ga, cầm cho thích tay và doạ mấy thằng Đức là chính vì có mở ra tôi cũng chỉ xem được tranh là hết đất.
Trước khi đi vào màn đêm còn có một đoạn ánh sáng. Trong màn sáng đó, trong tiếng động vẳng tới đều đặn của những chuyến xe điện chạy ngay trước mặt nhà ga, là tiếng hát. Không phải tiếng hát của những kẻ say, của những đám đông bạn bè đi chơi tối thứ Bảy, mà là opera. Một cô gái chọn chỗ rất ngon, ngay ở giao điểm mấy con đường nhỏ, lại thêm tốt giọng nên ở cách xa hàng cây số vẫn nghe tiếng. Hát opera không cần nhạc đệm, lại hát giữa đường phố, một mình, lại là một cô gái ăn mặc rất dân chơi sành điệu, điều này chắc chỉ nước Đức mới có được. Âu cũng là một kinh nghiệm: đừng đùa với người Đức về âm nhạc!
Có lẽ tôi đã lọt vào khu Altstadt tức là khu phố cổ của Hannover, vì những ngôi nhà đêm ấy tôi thấy trông đều rất cổ, trong đó không biết có ngôi nhà thờ cổ nhất thành phố là Kreuzkirche, xây khoảng năm 1300, hay Rathaus, trước là hoàng cung hay không. Không thể biết được vì thành phố rất tối, không có nhiều biển chỉ đường, một thành phố lạ lần đầu tiên đặt chân tới.
Không thể biết được, chính cái không thể biết được đó khiến Hannover trở nên hấp dẫn như một cô gái lai bí ẩn. Những bước chân ban đêm, sự âm u và niềm cô độc. Sự cô độc gợi nhớ đến Rousseau khi viết Rêveries d’un promeneur solitaire và nhất là Walter Benjamin, con người của cô độc và của đêm, con người đêm của cả Berlin lẫn Paris, con người lạ lùng, nhà siêu hình vĩ đại cuối cùng. Chợt một ham muốn dâng lên trong lòng tôi: được lạc hẳn trong thành phố đó, lạc hẳn vào đêm sâu thẳm đó. “Đốt một ngọn đèn hồng như ánh lửa. Đêm sâu quá đêm nào có ngủ. Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi. Nhưng có ngủ đâu, người ta đợi mặt trời..” Cảm giác đêm, dịu dàng và bất trắc, dịu dàng nhiều hơn…
Nước Đức, đó là sự hứa hẹn bất trắc. Ít nhất đó là cảm giác đầu tiên của tôi. Con tàu Thalys (từ Pháp sang Đức có tàu này, nên chọn tàu Nachzug là tàu đêm cho rẻ) trôi qua Bruxelles-Guillemins, rồi qua Liège một lúc thì nửa đêm lọt vào nước Đức. Thành phố đầu tiên là Aachen. Lúc ấy đang nói chuyện với Mélissa đến đoạn cao trào. Mélissa, cô gái Orléans xinh đẹp và nhiều lời. Cái xinh đẹp miễn xá cho sự nhiều lời. Một mình tôi và Mélissa trong khoang tàu. Mới quen nhau được vài tiếng mà tôi đã biết hết về cô, và thậm chí muốn biết thêm nữa cũng được, ít nhất là tôi nghĩ thế nhưng cũng chưa thử. Mélissa, em là hiện thân linh hồn Pháp đang cùng tôi đi vào một đất nước khác.
Đang nói chuyện với Mélissa đến đoạn cao trào mà tôi vẫn thần người ra vì thấy sao thật là giống những chuyến tàu chở dân Do Thái đến trại tập trung, lò thiêu Holocaust. Những bộ phim khủng khiếp, những đoàn tàu đen thui, hiểm hoạ ở trong hơi máy, trong tiếng xình xịch vô tội nhất. Trong những bộ phim đã vậy, cả trong cuốn tiểu thuyết tôi vừa đọc, “Giờ thứ hai nhăm” của Virgil Gheorghiu cũng vậy. Lúc con tàu dừng lại, anh chàng Moritz hiền lành đó thò đầu ra chào “những người anh em Do Thái” và phải chịu một trận đá ném thừa sống thiếu chết. Thoạt tiên Moritz bị cho là người Do Thái nên bị người Đức bắt đi làm lụng đủ thứ rất cực nhục, sau rồi lại bị cho là người Đức thế là đi lính cho Nazi, rồi cứu quân động minh nên được trọng vọng, rồi lại bị coi là người Đức nên bị lên tàu đưa đi nhốt, trên tàu lại chào người Do Thái nên bị đá ném. Nước Đức, đó là vinh quang và đau khổ, là hiển hách và cực nhục, là thiên tài và lầm lạc.
Những chuyện đồn thật là tai hại. Nhìn trên tàu IC có thằng hút thuốc ở khoang cấm hút thuốc, rồi trên đường thấy có thằng chạy qua đường khi đang đèn đỏ mà không bị bắt lại bắn cái đòm, tôi mới hơi tin Allemands này cũng là người giống mình! Âu cũng là một kinh nghiệm: không phải thằng đầu trọc hay mào gà nào cũng nguy hiểm.
Berlin có con sông Spree. Giữa sông có tượng hai người khổng lồ đang giằng co nhau không hiểu có ý nghĩa gì. Berlin, đó là Unter den Linden. Dãy phố chạy xuyên suốt Berlin. Unter den Linden có nghĩa là Champs Elysées của Paris. Còn có nghĩa là Quartier Latin với Đại học Humboldt. Hai anh em Alexander và Wilhelm. Trước đây là trường Đại học Berlin, xây năm 1810. Trường có 25 giải Nobel, chủ yếu về khoa học. Trường có một số sinh viên nghèo vượt khó nổi tiếng như là Einstein và Heisenberg. Trên Unter den Linden còn có những thư viện khổng lồ, gồm cả thư viện German State Library thành lập năm 1661, một dạng Sainte-Geneviève của Paris, có đến 7 triệu đầu sách. Berlin còn có nghĩa là cổng Brandenburg. Trước, cái cổng bề thế 6 cột theo lối Hy Lạp này từng được coi là trung tâm đế chế Đức. Đến khi nước Đức chia đôi nó lại trở thành một biểu tượng nữa: biểu tượng của cách chia, của đau thương, và phản bội. Phản bội, bởi bên Tây Berlin có cái lệ ai ở bên kia trốn sang, từ bên Cộng sản trốn sang sẽ được cho luôn 100 Mác.
Thế cho nên nó vừa là biểu tượng của thế giới tự do, vừa là biểu tượng của phản bội. Còn hôm nay, ngay trên Pariser Platz là cuộc biểu tình chống chiến tranh Iraq; Bush và Blair trở thành hai con ngoáo ộp trên một bức vải to đùng, sứ quán Anh cạnh khách sạn Adlon bị ngăn cả hai đầu phố vì sợ bạo loạn.
Quảng trường Alexander trước đây là trung tâm miền Đông Berlin, ngay dưới chân tháp truyền hình khá cao. Bên xế hông quảng trường là một toà nhà bắt chước Quảng trường đỏ của Liên Xô, nhưng quy mô dĩ nhiên là nhỏ hơn. Đông Berlin và Tây Berlin, tuy đã được coi là thống nhất nhưng sự khác biệt, thậm chí rạn nứt vẫn còn hiện hữu rõ nét. Đã trở lại là thủ đô toàn đất nước, các cơ quan đã chuyển về đây, nhưng Berlin vẫn là một công trường. Người ta xây dựng nhiều ở bên phía Đông nghèo đói, nơi vẫn còn dấu vết những toà nhà đặc lối Liên Xô, nghĩa là cũng hao hao như Giảng Võ, như Cửa Nam ở Hà Nội. Tượng Karl Marx và Engel ở Alexanderplatz tuy chưa bị kéo đổ nhưng giờ đã trở thành nơi để người ta cười giễu đến chụp ảnh về khoe ở nhà. Cả tôi cũng chụp ảnh với cái tâm lý đó, sau rồi lại thấy hối. Những ngã tư, những cô gái xồ xề và những thanh niên cao to choai choai đầu gấu chạy tíu tít ra lau kính xe kiếm vài xu. Khác hẳn với cuộc sống nhộn nhịp bên phía Tây, nơi trung tâm là nhà thờ cụt đầu (bị bom Liên Xô xoẹt mất ngọn), nơi nhộn nhịp khách khứa, lại có cả mấy đồng chí Việt treo băng rôn rất là khiêu khích, đại khái chủ đề là tự do tôn giáo gì gì đó, tôi cũng chả dám giơ máy ảnh lên chụp.
Tiếu ngạo ở bờ Đông, tôi cũng tranh thủ mua được một bức huy hiệu cũ kỹ có hình của Gogol. Những đồ nho nhỏ kỷ niệm lại thời hai bên bức tường giờ được bày bán. Gogol còn sống thì chắc đang chiêm ngưỡng Những linh hồn chết đang dật dờ hai miền, lại có thể viết một Nhật ký người điên khác, hay lại để Cái mũi phiêu lưu trên Unter den Linden như đã từng phiêu diêu ở đại lộ Nevski tại Saint-Peterburg thần thánh.
Khi bức tường Bá Linh đổ năm 1989, người bên Đông Đức bảo nhau đến cái mùi tư bản bên Tây tràn sang cũng thấy thơm. Bức tường đó do Ulbricht xây dựng năm 1961, là vết nhơ xấu xa sau cái vết nhơ Nazi. Adenauer rồi Willy Brandt, còn bên Đông Đức sẽ tới Erich Honecker. Âu cũng là một kinh nghiệm: một thành phố lâu đời là không thể chia đôi, bởi chia đôi như thế thì cái kết cục Willy Brandt phải từ chức vì phát hiện người thân tín của mình là gián điệp của Đông Đức cũng là tất yếu, bởi vì chia đôi đã có hàm nghĩa phản bội.
Leipzig ý vị và học thức. Nơi ấy có trung tâm triển lãm sách lớn nhất châu Âu, lại có nhà ga từng một thời lớn nhất châu Âu.
Chợ Bến Thành và Đồng Xuân ngay cạnh nhau, dù ở Việt Nam chúng cách nhau đến hàng nghìn cây số. Leipzig thuộc bang Sachsen, không phải thủ phủ (thủ phủ là Dresden), là nơi hợp lưu của những dòng sông Pleisse, Parthe và Weisse. Leipzig xưa chắc là đẹp lắm vì thế kỷ XVIII nó từng được mệnh danh là Kleine Paris (Tiểu Paris).
Thời thế kỷ XVIII đó Leipzig có người chủ soái là Johann Christoph Gottsched. Đại học Leipzig rất cổ (năm 1409), sau này từ 1953 đến 1990 được đổi thành đại học Karl Marx. Những vĩ nhân đến rồi đi, thay đổi một chút lịch sử rồi lại để lại cho dòng thời gian chảy. Những vĩ nhân lớn lao và đau khổ. Karl Marx là một vĩ nhân như thế. Những vĩ nhân khác từng vinh danh Đại học Leipzig là Fichte, Bach, Schumann và Goethe. Ở quảng trường đại học, bức tượng Bartholdy ăn chơi nghệ sĩ đứng chiếu cái nhìn vào nhà hát. Nhà hát chính là một đặc điểm quan trọng của những thành phố Đức. Dàn nhạc 200 người của Leipzig được coi là một trong những dàn nhạc hay nhất thế giới. Ngoài Leibniz và Richard Wagner sinh ra và lớn lên ở đây, Leipzig còn có khu thành Pleissenburg nơi Martin Luther từng tranh biện với Johann Eck, nhà thần học theo Thiên chúa giáo Lô Ma năm 1519.
Leipzig có nhà ga to thật. To như cái sân bay mà đi toilet lại đắt éo tả nổi, lại thêm mấy chị gái già cứ tò mò nhìn khó hành sự ghê. Âu cũng là một kinh nghiệm: đến Leipzig đừng vào nhà ga mà làm cái công việc của em Tia!
Từ thành phố đến thành phố. D’une ville l’autre như cách viết của Céline. Thành phố Đức đầu tiên tôi chính thức đặt chân lên là Magdeburg, thành phố nhỏ lọt thỏm vào khoảng giữa của bốn thành phố lớn hơn là Dresden, Leipzig, Berlin và Hannover.
Tất cả cuộc sống của thành phố nhỏ 180 000 dân này quay xung quanh quảng trường đại học. Đó là đại học Otto von Guericke, mang tên nhà bác học thế kỷ XVII sinh ra tại đây. Vỉa hè nào ở đây cũng có mô hình hai nửa quả cầu áp vào nhau miêu tả thí nghiệm chân không nổi tiếng của Guericke. Cái gì ở đây cũng Guericke, như ở Hà Nội cái gì cũng Tràng Tiền mà Sài Gòn cái gì cũng Lê Lợi, Ba Lê thì cái gì cũng euro!
Magdeburg là thủ phủ bang Sachsen-Anhalt, một trong những bang xưa kia tạo nên Đông Đức. Magdeburg là minh chứng rõ rệt nhất cho việc một thành phố sụp đổ theo chế độ. Trước kia thành phố có 500 000 dân, rất quan trọng trong ngành công nghiệp vũ khí với những đơn đặt hàng to uỳnh từ Liên Xô. Đùng một cái giờ đây mọi cái đều sụp. Bên cạnh siêu thị Karstadt của thành phố là toà nhà trước từng là trụ sở Đảng cộng sản, giờ hoang phế và sắp bị phá đi. Thành phố giờ toàn ông bà già, thơ thẩn đi trên những đường phố vắng hoe, những chiếc xe điện cọc cạch càng tăng thêm mức độ tĩnh mịch. Tối đến chừng 9 giờ đã chẳng còn ma nào lai vãng, thật chẳng khác mấy Thanh
Hoá hay Nam Định.
Những ông già bà cả đó vẫn còn rất tự hào về thành phố, nhưng thực ra cái danh hiệu một trong những thành phố cổ nhất Đức giờ cũng đã phai nhạt. Trước kia Magdeburg có một quần thể nhà thờ rất đồ sộ kiến trúc gôtích rất đáng nể, gồm hơn 30 nhà thờ xây bên dòng sông Elbe. Sau những trận bom khủng khiếp của Đồng minh trong Thế chiến II, giờ hầu như chỉ còn lại nhà thờ Dom, trong đó nghe nói còn có hài cốt vua Otto Đại đế, vị vua vĩ đại của thế kỷ X, vị vua hiển hách từng thu phục cả nước Italia vào tay mình.
Nhưng nhịp điệu ôn hoà trầm bổng của một thành phố nhỏ nhắn như thế cũng có cái hay. Những em gái Đức đẹp và cao lớn, phải nói là xinh không chịu được, chỉ muốn cắn mà hôn mà… (điền vào chỗ trống). Trong quán billard chiều hôm đó, tôi đã thể hiện rất rõ chí khí, không cắn không hôn em Maiki xinh đẹp như quả lê chín đó, mà chỉ cầm tay em hướng dẫn cách cầm cơ. Mà em xinh thật, xinh như dòng sông Elbe chảy qua thành phố.
Về đến nhà, vừa vặn có điện thoại của Virginie (điển tích: Virginie hay là đôi mắt người Paris). Ngày mai tôi sẽ gặp em, sẽ được hôn em và sau đó đi chơi chắc là vui lắm, nhưng làm thế nào quên được em Maiki đây..

>








